Số 39 Trần Hưng Đạo, Hoàn Kiếm, Hà Nội

024 3943 71 30

natif@most.gov.vn

Thông báo kết quả xét tuyển viên chức năm 2020 của Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia

Hội đồng tuyển dụng viên chức năm 2020 của Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia thông báo kết quả xét tuyển.

Thông tin chi tiết Tại đây

Thông báo triệu tập thí sinh tham dự vòng 2, danh sách thí sinh không đạt yêu cầu

Hội đồng tuyển dụng viên chức 2020 của Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia thông báo triệu tập thí sinh có đủ điều kiện tham gia phỏng vấn vòng 2 kỳ xét tuyển viên chức 2020 của Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia.

Căn cứ vào kết quả đánh giá Phiếu đăng ký dự tuyển viên chức của Ban kiểm tra phiếu đăng ký tuyển dụng viên chức 2020 của Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia. Hôi đồng tuyển dụng viên chức 2020 của Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia thông báo danh sách thí sinh có Phiếu đăng ký dự tuyển viên chức không đủ điều kiện tham gia phỏng vấn vòng 2 kỳ xét tuyển viên chức 2020 của Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia.

 

Thông báo Tuyển dụng viên chức năm 2020

Căn cứ nhu cầu công việc, vị trí việc làm, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp và Công văn số 1956/BKHCN-TCCB ngày 06 tháng 7 năm 2020 của Bộ Khoa học và Công nghệ về việc tuyển dụng viên chức sự nghiệp năm 2020 của Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia, Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia thông báo tuyển dụng 11 viên chức sự nghiệp năm 2020

 

Về việc chưa tiếp nhận hồ sơ đề xuất hỗ trợ tài chính cho các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân từ Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia

Ngày 29 tháng 1 năm 2021, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 04/2021/QĐ-TTg ban hành Điều lệ tổ chức và hoạt động của Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia (sau đây gọi tắt là Quỹ) thay thế Quyết định số 1342/QĐ-TTg ngày 05/8/2011. Theo đó, Quỹ hoạt động không vì mục đích lợi nhuận, thực hiện chức năng cho vay ưu đãi, hỗ trợ lãi suất vay, bảo lãnh để vay vốn và hỗ trợ vốn (sau đây gọi chung là hỗ trợ tài chính) cho các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân thực hiện nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao, đổi mới và hoàn thiện công nghệ.

Để thực hiện được các chức năng, nhiệm vụ mới nêu trên, Lãnh đạo Bộ Khoa học và Công nghệ đang chỉ đạo Quỹ khẩn trương xây dựng, hoàn thiện các văn bản, thông tư hướng dẫn để triển khai thực hiện Quyết định số 04/2021/QĐ-TTg; đồng thời làm việc với các Bộ, Ngành có liên quan về việc nhanh chóng cấp vốn điều lệ cho Quỹ hoạt động theo quy định tại Quyết định 04/2021/QĐ-TTg.

Do vậy, Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia xin thông báo: Quỹ chưa tiếp nhận các hồ sơ đề xuất của các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân về việc hỗ trợ tài chính từ Quỹ để thực hiện nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao, đổi mới và hoàn thiện công nghệ.

Ngay sau khi có hành lang pháp lý đầy đủ và được cấp vốn điều lệ, Quỹ sẽ thông tin về việc tiếp nhận hồ sơ đề xuất hỗ trợ tài chính cho các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân trên các phương tiện truyền thông đại chúng theo đúng quy định.

Quỹ trân trọng thông báo đến các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân biết và chủ động thực hiện. Nếu cần có thêm thông tin, đề nghị Quý doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân liên hệ với Quỹ theo địa chỉ: Văn phòng Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia – Bộ Khoa học và Công nghệ (số 39 Trần Hưng Đạo, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội; điện thoại 02439437130).

 

Thông tin đánh giá và thẩm định kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ không sử dụng ngân sách nhà nước

Thông tin chung về nhiệm vụ:

– Nhóm nhiệm vụ: Nhiệm vụ khoa học và công nghệ không sử dụng ngân sách nhà nước.

– Tên nhiệm vụ: “Chế tạo thử nghiệm sản phẩm Nano OIC anti-Covid ức chế sự phát triển của virus Covid-19”.

– Tổ chức chủ trì thực hiện nhiệm vụ:

+ Công ty CP Công nghệ mới Nhật Hải.

+ Địa chỉ: Số 9 BT2 Bán đảo Linh Đàm, phường Hoàng Liệt, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội.

– Lĩnh vực khoa học và công nghệ: Công nghệ vật liệu nano (Mục 56 – Danh mục công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển, ban hành kèm theo Quyết định số 66/2014/QĐ-TTg ngày 25/11/2014 của Thủ tướng Chính phủ).

– Dự kiến tác động chính của kết quả:

+ Đánh giá tính an toàn và hiệu quả của sản phẩm Nano OIC-anti-Covid trong việc tăng cường sức đề kháng của cơ thể, phòng ngừa và điều trị bệnh do virus gây ra, giảm hàm lượng Cytokine, chống đông máu.

+ Đánh giá khả năng ứng dụng sản phẩm trong thực tế với điều kiện của Việt Nam hiện nay.

Thời gian, địa điểm dự kiến đánh giá:

– Thời gian dự kiến: 14 giờ 00 phút, ngày 07/5/2020 (thứ 5).

– Địa điểm dự kiến: Phòng 215, số 39 Trần Hưng Đạo, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội./.

Cú hích cho đổi mới sáng tạo

Hỗ trợ doanh nghiệp chuyển giao, đổi mới, hoàn thiện công nghệ; thúc đẩy việc chuyển giao công nghệ phục vụ phát triển nông nghiệp ở vùng nông thôn, miền núi, địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn… là một trong những mục đích hoạt động của Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia, theo Quyết định số 04/2021/QĐ-TTg ban hành điều lệ tổ chức và hoạt động của quỹ. Không ít doanh nghiệp kỳ vọng, với hành lang pháp lý rõ ràng, sự hoạt động trở lại của Quỹ vừa là cú hích, vừa là điểm xuất phát cho quá trình đổi mới công nghệ để tăng năng suất, nâng cao chất lượng và tính cạnh tranh sản phẩm hàng hóa của doanh nghiệp.

Không phải tới bây giờ, mới có Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia, mà ngay từ năm 2015, Quỹ đã đi vào hoạt động nhưng phải tạm dừng vào năm 2018, do thiếu hướng dẫn quản lý tài chính đối với hoạt động tín dụng, khiến Quỹ chưa triển khai được hoạt động hỗ trợ tín dụng cho vay ưu đãi, hỗ trợ lãi suất vay, bảo lãnh để vay vốn. Cùng với đó là sự thiếu đồng bộ giữa Luật Ngân sách nhà nước và cơ chế của Quỹ quy định trong Luật Chuyển giao công nghệ, gây ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động của Quỹ.

Suốt quá trình hoạt động của Quỹ, có không ít băn khoăn về việc có cần quỹ dành cho nghiên cứu khoa học do Nhà nước đầu tư nữa không, bởi doanh nghiệp đã có quỹ dành cho khoa học công nghệ? Song, phải khẳng định rằng, các quỹ của doanh nghiệp thường chỉ đầu tư cho những lĩnh vực nghiên cứu gắn với lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp, tập trung vào những đề tài cụ thể, có tính ứng dụng cho hệ sinh thái của doanh nghiệp. Còn quỹ của Nhà nước sẽ hỗ trợ tất cả các lĩnh vực, có những lĩnh vực hiện nay chưa thể ứng dụng nhưng có thể có triển vọng trong tương lai. Hơn nữa, đa phần các doanh nghiệp của Việt Nam còn nhỏ bé về quy mô, doanh số và thị trường, cho nên thường không có đủ nguồn lực tài chính để đầu tư đổi mới công nghệ. Do đó, việc Nhà nước đồng hành với doanh nghiệp sẽ giúp hình thành một lực lượng doanh nghiệp trong nước mạnh về công nghệ và đổi mới sáng tạo, giúp nền kinh tế phát triển bền vững. Vì vậy, việc tạo hành lang pháp lý rõ ràng để Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia tiếp tục hoạt động là điều cần thiết.

Khắc phục hạn chế về vốn điều lệ khiêm tốn, khó đáp ứng được hết đề nghị hỗ trợ của doanh nghiệp, theo Quyết định số 04/2021/QĐ-TTg, vốn điều lệ của Quỹ đã được nâng từ 1.000 tỷ đồng lên 2.000 tỷ đồng. Thế nhưng, để thực sự tạo thuận lợi cho doanh nghiệp tiếp cận nhanh nguồn kinh phí hỗ trợ từ Nhà nước, điều kiện tiên quyết là phải tháo gỡ vướng mắc về thủ tục trong hoạt động hỗ trợ về khoa học công nghệ. Bởi đã từng có trường hợp doanh nghiệp khi nộp hồ sơ, gặp vướng mắc trong xét duyệt dự án hay gặp khó khăn trong giải ngân vốn. Điều đó đòi hỏi Quỹ cần có cơ chế tiếp cận thông thoáng, nhanh gọn, đơn giản trên cơ sở công khai thủ tục, điều kiện, đối tượng cho vay; minh bạch trong tổ chức xét chọn nhiệm vụ, dự án, tránh gây phiền hà, nản lòng cho doanh nghiệp.

Hơn nữa, cần áp dụng cơ chế quỹ với những đặc trưng như vốn điều lệ được bố trí ngay từ đầu năm ngân sách, không phụ thuộc vào danh mục nhiệm vụ đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Bên cạnh đó, không thể thiếu hướng dẫn chi tiết về quản lý vốn vay ưu đãi, bảo lãnh vốn vay và hỗ trợ lãi suất vay, huy động nguồn hỗ trợ từ doanh nghiệp, các tổ chức cá nhân, để vừa bảo toàn vốn điều lệ vừa nâng cao năng lực tài trợ cho các doanh nghiệp đổi mới công nghệ

Kỳ vọng Quỹ Ðổi mới công nghệ quốc gia sớm đi vào hoạt động

Đại diện Quỹ Ðổi mới công nghệ quốc gia cho biết, Cơ quan này đang xây dựng các quy định cụ thể, chuẩn bị cho việc vận hành Quỹ. Quỹ có vốn điều lệ 2.000 tỷ đồng, có chức năng cho vay ưu đãi, hỗ trợ lãi suất vay, bảo lãnh để vay vốn và hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân thực hiện nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao, đổi mới và hoàn thiện công nghệ.

Thiếu cơ chế, Quỹ mới tập trung hỗ trợ tư vấn là chính

Đầu năm 2021, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 04/2021/QÐ-TTg, về Ðiều lệ tổ chức và hoạt động của Quỹ Ðổi mới công nghệ quốc gia. Quyết định số 04 của Thủ tướng có hiệu lực từ ngày 15/03/2021, tạo hành lang pháp lý để Quỹ tiếp tục hoạt động sau khi tạm dừng vào đầu năm 2018.

Theo Quyết định của Thủ tướng, Quỹ hoạt động theo mô hình Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ. Bên cạnh việc hỗ trợ doanh nghiệp chuyển giao, đổi mới, hoàn thiện công nghệ, Quỹ có chức năng hỗ trợ ươm tạo công nghệ, ươm tạo doanh nghiệp khoa học và công nghệ, giải mã công nghệ; hỗ trợ đào tạo nhân lực khoa học và công nghệ phục vụ việc chuyển giao, đổi mới, hoàn thiện công nghệ. Quỹ có nhiệm vụ tiếp nhận, quản lý và sử dụng các nguồn vốn từ ngân sách Nhà nước, các nguồn tài chính tài trợ hợp pháp, các khoản đóng góp tự nguyện của doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước; tổ chức xét chọn nhiệm vụ, dự án để Quỹ hỗ trợ tài chính; xây dựng quy định về hỗ trợ tài chính và quyết định mức hỗ trợ tài chính một cách minh bạch; thẩm định tài chính, kiểm tra, quản lý quá trình thực hiện nhiệm vụ, dự án và tổ chức đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ, dự án được Quỹ hỗ trợ tài chính.

Bộ Khoa học và Công nghệ cho biết, các doanh nghiệp chưa tích cực huy động vốn hỗ trợ từ Nhà nước và các nguồn khác do thiếu thông tin

Thông tin từ Quỹ Ðổi mới công nghệ quốc gia cho biết, loại hình quỹ này đi vào hoạt động từ năm 2015, sau ba năm, Quỹ đã tiếp nhận gần 1.000 đề xuất, ý tưởng từ các doanh nghiệp tại 35 tỉnh, thành phố trong cả nước; tư vấn, phân loại và đánh giá 300 dự án có tính khả thi cao. Tiến hành xét chọn 184 dự án, đã phê duyệt và ký hợp đồng tài trợ 27 dự án với tổng kinh phí 1.050 tỷ đồng, trong đó ngân sách nhà nước 268 tỷ đồng, đóng góp của doanh nghiệp 782 tỷ đồng. Quỹ đã huy động hơn 600 lượt chuyên gia tham gia trợ giúp, tư vấn cho các doanh nghiệp tìm kiếm, đánh giá, khai thác công nghệ.

Tuy nhiên, do thiếu thông tư hướng dẫn quản lý tài chính đối với hoạt động tín dụng, khiến Quỹ chưa triển khai được hoạt động hỗ trợ tín dụng (cho vay ưu đãi, hỗ trợ lãi suất vay, bảo lãnh để vay vốn); thiếu đồng bộ giữa Luật Ngân sách Nhà nước và cơ chế của Quỹ quy định trong Luật Chuyển giao công nghệ đã ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động của Quỹ.

Chờ Nhà nước cấp vốn (2.000 tỷ đồng) và định hình cơ chế hỗ trợ tín dụng minh bạch

Theo Ðiều lệ mới, Quỹ Ðổi mới công nghệ quốc gia là quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, hoạt động không vì mục đích lợi nhuận. Vốn điều lệ của Quỹ được ngân sách nhà nước cấp, nâng lên từ 1.000 tỷ lên 2.000 tỷ đồng và các nguồn vốn khác để thực hiện chức năng cho vay ưu đãi, hỗ trợ lãi suất vay, bảo lãnh để vay vốn và hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân thực hiện nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao, đổi mới và hoàn thiện công nghệ.

Với nguồn vốn điều lệ của Quỹ khá lớn, thông qua việc hỗ trợ tín dụng và hỗ trợ vốn, sẽ thúc đẩy doanh nghiệp đổi mới công nghệ, trở thành trung tâm của hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia. Phần lớn doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam đang sử dụng công nghệ lạc hậu. Do vậy, Quỹ được kỳ vọng tạo thuận lợi cho doanh nghiệp tiếp cận nhanh nguồn kinh phí hỗ trợ từ Nhà nước, giải quyết vướng mắc về thủ tục trong các hoạt động hỗ trợ của Nhà nước đối với ngành khoa học – công nghệ.

Tuy nhiên, thách thức đối với Hội đồng quản lý Quỹ là triển khai hoạt động hỗ trợ tín dụng với độ phức tạp cao nhưng phải đáp ứng nhanh nhu cầu của doanh nghiệp. Trước đây, vốn điều lệ được sử dụng để vừa tài trợ, vừa hỗ trợ tín dụng cho doanh nghiệp, nhưng hiện nay chỉ được sử dụng để cho doanh nghiệp vay ưu đãi, hỗ trợ lãi suất vay, bảo lãnh để vay vốn. Hoạt động tài trợ sử dụng từ nguồn vốn khác. Ðể Quỹ hoạt động hiệu quả, Nhà nước cần cấp vốn điều lệ nhanh chóng và đầy đủ. Qua các năm trước đây cho thấy, ngân sách nhà nước đều không cấp đủ vốn điều lệ cho Quỹ. Việc cấp vốn nhỏ giọt sẽ không đem lại hiệu quả hỗ trợ tài chính khi doanh nghiệp đổi mới công nghệ cần vay vốn ở mức cao, đáp ứng vốn tức thời để nắm bắt thời cơ kinh doanh. Ðồng thời, vai trò, chức năng của Quỹ là hỗ trợ doanh nghiệp chuyển giao, đổi mới, hoàn thiện công nghệ cũng không phát huy được trên thực tế.

Theo một kết quả điều tra năm 2019 về đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp của Bộ Khoa học và Công nghệ, các doanh nghiệp chủ yếu sử dụng vốn tự có cho hoạt động đổi mới sáng tạo, sau đó mới đến nguồn vốn vay. Các doanh nghiệp chưa tích cực huy động vốn hỗ trợ từ Nhà nước và các nguồn khác do thiếu thông tin. Không ít doanh nghiệp không biết đầu mối để kết nối, tiếp cận các hình thức hỗ trợ từ các nguồn của Nhà nước và các tổ chức tín dụng.

Theo đó, khi đi vào vận hành, Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia, cần có cơ chế tiếp cận thông thoáng, nhanh gọn, đơn giản trên cơ sở công khai thủ tục, điều kiện, đối tượng cho vay để nhiều doanh nghiệp biết thông tin, đồng thời cần minh bạch trong tổ chức xét chọn nhiệm vụ, dự án được nhận sự hỗ trợ từ Quỹ./.

Ðể doanh nghiệp tiếp cận hiệu quả Quỹ Ðổi mới công nghệ quốc gia

Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành Quyết định số 04/2021/QÐ-TTg, về Ðiều lệ tổ chức và hoạt động của Quỹ Ðổi mới công nghệ quốc gia (gọi tắt là Quỹ). Ðây là hành lang pháp lý để Quỹ tiếp tục hoạt động sau khi tạm dừng vào đầu năm 2018.

Ði vào hoạt động từ năm 2015, chỉ sau ba năm, Quỹ đã tiếp nhận gần 1.000 đề xuất, ý tưởng từ các doanh nghiệp tại 35 tỉnh, thành phố trong cả nước; tư vấn, phân loại và đánh giá 300 dự án có tính khả thi cao. Tiến hành xét chọn 184 dự án, đã phê duyệt và ký hợp đồng tài trợ 27 dự án với tổng kinh phí 1.050 tỷ đồng, trong đó ngân sách nhà nước 268 tỷ đồng, đóng góp của doanh nghiệp 782 tỷ đồng. Quỹ đã huy động hơn 600 lượt chuyên gia tham gia trợ giúp, tư vấn cho các doanh nghiệp tìm kiếm, đánh giá, khai thác công nghệ. Các nhiệm vụ được tài trợ đã mang lại hiệu quả kinh tế cao cho doanh nghiệp và xã hội. Ðồng thời đã hỗ trợ đổi mới công nghệ, làm chủ công nghệ của các doanh nghiệp, từng bước nội địa hóa công nghệ, thiết bị, giảm phụ thuộc vào các công nghệ nhập khẩu, tạo ra các sản phẩm có giá trị gia tăng cao.

Tuy nhiên, do thiếu thông tư hướng dẫn quản lý tài chính đối với hoạt động tín dụng khiến Quỹ chưa triển khai được hoạt động hỗ trợ tín dụng (cho vay ưu đãi, hỗ trợ lãi suất vay, bảo lãnh để vay vốn); thiếu đồng bộ giữa Luật Ngân sách Nhà nước và cơ chế của Quỹ quy định trong Luật Chuyển giao công nghệ đã ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động của Quỹ. Theo Ðiều lệ mới, Quỹ Ðổi mới công nghệ quốc gia là quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, hoạt động không vì mục đích lợi nhuận. Vốn điều lệ của Quỹ được ngân sách nhà nước cấp, nâng lên từ 1.000 tỷ lên 2.000 tỷ đồng và các nguồn vốn khác để thực hiện chức năng cho vay ưu đãi, hỗ trợ lãi suất vay, bảo lãnh để vay vốn và hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân thực hiện nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao, đổi mới và hoàn thiện công nghệ.

Theo nhiều chuyên gia, nguồn vốn điều lệ của Quỹ hiện nay khá lớn. Thông qua việc hỗ trợ tín dụng và hỗ trợ vốn, sẽ thúc đẩy doanh nghiệp đổi mới công nghệ và thực hiện chủ trương của Ðảng, Nhà nước là lấy doanh nghiệp làm trung tâm của hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia. Phần lớn doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam đang sử dụng công nghệ lạc hậu, và có nhu cầu đổi mới công nghệ. Do vậy, Quỹ được kỳ vọng tạo thuận lợi cho doanh nghiệp tiếp cận nhanh nguồn kinh phí hỗ trợ từ Nhà nước, giải quyết vướng mắc về thủ tục trong các hoạt động hỗ trợ của Nhà nước đối với ngành khoa học – công nghệ.

Tuy nhiên, thách thức đối với Hội đồng quản lý Quỹ là triển khai hoạt động hỗ trợ tín dụng với độ phức tạp cao nhưng phải đáp ứng nhanh nhu cầu của doanh nghiệp. Trước đây, vốn điều lệ được sử dụng để vừa tài trợ, vừa hỗ trợ tín dụng cho doanh nghiệp, nhưng hiện nay chỉ được sử dụng để cho doanh nghiệp vay ưu đãi, hỗ trợ lãi suất vay, bảo lãnh để vay vốn. Hoạt động tài trợ sử dụng từ nguồn vốn khác. Ðể Quỹ hoạt động hiệu quả với đầy đủ các chức năng được quy định, Nhà nước cần cấp vốn điều lệ nhanh chóng và đầy đủ. Qua các năm trước đây cho thấy, ngân sách nhà nước đều không cấp đủ vốn điều lệ cho Quỹ. Việc cấp vốn nhỏ giọt sẽ không đem lại hiệu quả hỗ trợ tài chính khi doanh nghiệp đổi mới công nghệ cần vay vốn ở mức cao, đáp ứng vốn tức thời để nắm bắt thời cơ kinh doanh. Ðồng thời, vai trò, chức năng của Quỹ là hỗ trợ doanh nghiệp chuyển giao, đổi mới, hoàn thiện công nghệ cũng không phát huy được trên thực tế.

Theo một kết quả điều tra đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp của Bộ Khoa học và Công nghệ, các doanh nghiệp chủ yếu sử dụng vốn tự có của doanh nghiệp cho các hoạt động đổi mới sáng tạo, sau đó mới đến nguồn vốn vay. Các doanh nghiệp chưa tích cực huy động vốn hỗ trợ từ Nhà nước và các nguồn khác do thiếu thông tin. Không ít doanh nghiệp không biết đầu mối để kết nối, tiếp cận các hình thức hỗ trợ từ các nguồn của Nhà nước và các tổ chức tín dụng. Quỹ Ðổi mới công nghệ quốc gia cần góp phần giải quyết bất cập nêu trên. Nhiều địa phương và doanh nghiệp cho rằng, giai đoạn tới, Quỹ cần có cơ chế tiếp cận thông thoáng, nhanh gọn, đơn giản trên cơ sở công khai thủ tục, điều kiện, đối tượng cho vay để nhiều doanh nghiệp biết thông tin, đồng thời cần minh bạch trong tổ chức xét chọn nhiệm vụ, dự án, tránh gây phiền hà, nản lòng cho doanh nghiệp. Cần có các kênh thông tin ở các địa phương để nắm được thực lực, khả năng phát triển của doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa nhằm hỗ trợ tài chính hiệu quả, đúng đối tượng, vừa bảo toàn vốn của Quỹ.

Ngoài ra, bản thân các doanh nghiệp cần nâng cao năng lực, kỹ năng xây dựng, triển khai các đề tài, dự án đầu tư đổi mới công nghệ có hỗ trợ tín dụng, hỗ trợ tài chính từ ngân sách nhà nước nhằm đáp ứng được tiến độ thực hiện dự án của doanh nghiệp.

Đổi mới tư duy, cơ chế, chính sách để khoa học và công nghệ trở thành khâu đột phá đưa đất nước phát triển mạnh mẽ

Trong bối cảnh hội nhập và cách mạng công nghiệp lần thứ tư phát triển mạnh mẽ trên toàn cầu, khoa học và công nghệ (KH và CN) trở thành yếu tố đầu vào quan trọng nhất của lực lượng sản xuất hiện đại có ảnh hưởng quyết định tới chất lượng và tốc độ tăng trưởng của các nền kinh tế. Ở Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm, xem trọng vai trò của KH và CN cùng với giáo dục và đào tạo, KH và CN là quốc sách hàng đầu, là nền tảng động lực phát triển kinh tế – xã hội và bảo vệ Tổ quốc. Phát triển KH và CN và đổi mới sáng tạo là một trong các đột phá chiến lược được nhấn mạnh tại các dự thảo văn kiện trình Đại hội Đảng lần thứ XIII.

Trong những năm qua, KH và CN Việt Nam đã đạt được nhiều tiến bộ và thành tựu nổi bật, đóng góp thiết thực cho công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, củng cố quốc phòng và an ninh, cải thiện an sinh xã hội và chất lượng cuộc sống người dân, góp phần phát triển kinh tế – xã hội bền vững.

Đẩy mạnh phát triển tiềm lực và trình độ

Công tác quản lý nhà nước về KH và CN từng bước được đổi mới, hành lang pháp lý trong lĩnh vực KH và CN được tạo lập toàn diện và đồng bộ hơn, tạo môi trường thuận lợi và cạnh tranh lành mạnh trong nghiên cứu sáng tạo. Đổi mới sáng tạo dần trở thành tư duy mới trong quản lý, điều hành; nhận thức rõ hơn về vai trò trung tâm của doanh nghiệp trong hệ thống sáng tạo quốc gia; từng bước xóa bỏ cơ chế quản lý hành chính quan liêu; áp dụng nguyên tắc cạnh tranh bình đẳng trong tuyển chọn nhiệm vụ KH và CN; thực hiện cơ chế khoán chi và kiểm soát chi thông thoáng; gắn nhiệm vụ nghiên cứu với nhu cầu thực tiễn và thị trường; trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các tổ chức KH và CN công lập; phát triển thị trường công nghệ, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo; hình thành doanh nghiệp KH và CN, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo; khuyến khích doanh nghiệp thành lập viện nghiên cứu và đầu tư mạnh cho KH và CN; thí điểm mô hình thu hút, trọng dụng cán bộ khoa học tài năng trong nước và trí thức kiều bào.

Những đổi mới mạnh mẽ về cơ chế, chính sách đã góp phần nâng cao tiềm lực và trình độ KH và CN của đất nước. Đến nay, cả nước có 687 tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, 236 trường đại học, ba khu công nghệ cao quốc gia, 13 khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, tám khu công nghệ thông tin tập trung và gần 67 nghìn cán bộ nghiên cứu. Đã hình thành các viện nghiên cứu công nghệ công nghiệp theo mô hình tiên tiến thế giới ở khu vực công lập và tư nhân. Nguồn lực tài chính cho KH và CN từ ngân sách nhà nước được duy trì mức 2% tổng chi hằng năm; đầu tư từ doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp quy mô lớn ngày càng tăng mạnh (chiếm 48% tổng chi xã hội cho KH và CN). Hạ tầng nghiên cứu một số lĩnh vực trọng điểm như công nghệ sinh học, hóa dầu, vật liệu, năng lượng, tự động hóa, na-nô, công nghệ tính toán, y học được đầu tư tăng cường. Nguồn lực thông tin, nền tảng Tri thức Việt số hóa được đầu tư, kết nối và chia sẻ mở trong cộng đồng. Thị trường công nghệ, hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo phát triển sôi động, hệ thống sở hữu trí tuệ và tiêu chuẩn – đo lường – chất lượng ngày càng hoàn thiện, tạo môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp, khuyến khích sự ra đời của hàng nghìn doanh nghiệp khởi nghiệp có tiềm năng tăng trưởng.

Số lượng bài báo, công trình khoa học công bố quốc tế và sáng chế của người Việt Nam tăng hằng năm; tốc độ đổi mới công nghệ, năng lực công nghệ của quốc gia và doanh nghiệp được tăng cường; khoảng cách giữa Việt Nam và các nước trong khu vực được rút ngắn đáng kể trong xếp hạng năng lực cạnh tranh, năng lực đổi mới sáng tạo toàn cầu và ở một số lĩnh vực khoa học có thế mạnh. Năng lực đổi mới sáng tạo của Việt Nam liên tục tăng, năm 2017 tăng 12 bậc, năm 2018 tăng thêm ba bậc, năm 2019 và 2020 đạt thứ hạng tốt nhất từ trước tới nay, xếp thứ 42 trên 131 quốc gia, dẫn đầu nhóm quốc gia thu nhập trung bình thấp.

KH và CN thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội bền vững

Với các tiến bộ trong cơ chế quản lý, tăng cường đầu tư cho tiềm lực và trình độ KH và CN, lực lượng KH và CN thật sự đồng hành cùng các cấp, các ngành và địa phương để bám sát thực tiễn, đóng góp ngày càng thiết thực hơn cho sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.

Khoa học xã hội và nhân văn đã phát triển hệ thống lý luận mới về vai trò của văn hóa, lịch sử, con người và các nhân tố tạo nên sự phát triển bền vững, giúp thay đổi nhận thức và  hành  vi,  bồi  đắp trí tuệ của con người Việt Nam trong xã hội hiện đại, bảo tồn và phát huy các giá trị tinh hoa của dân tộc, góp phần xây dựng các nền tảng của một xã hội văn minh và hội nhập với thế giới tiến bộ. Khoa học chính trị và kinh tế cung cấp các luận cứ sâu sắc và kịp thời trong việc nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng và hiệu lực, hiệu quả của hệ thống chính trị; đổi mới đồng bộ thể chế kinh tế, chính trị và xã hội; có nhiều đóng góp thiết thực trong việc bảo đảm sự ổn định chính trị của đất nước trong điều kiện mới. Các công trình nghiên cứu về Biển Đông, đánh giá và dự báo kịp thời cục diện chính trị và ngoại giao trong khu vực, đã phục vụ đắc lực cho công cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo và an ninh, quốc phòng.

Khoa học tự nhiên đã có tiến bộ vượt bậc về lượng và chất. Các nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học trái đất và môi trường đã góp phần nâng cao năng lực dự báo, phòng tránh và giảm nhẹ thiệt hại do thiên tai, biến đổi khí hậu ở Việt Nam. Nghiên cứu cơ bản trong khoa học tự nhiên có đóng góp rất quan trọng trong đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trình độ cao, nhất là bậc sau đại học; gia cố nền tảng, năng lực nghiên cứu và đội ngũ cán bộ khoa học tài năng trong các trường đại học, viện nghiên cứu. Nhiều nhà khoa học trẻ đã nhận được các giải thưởng khoa học danh giá trong nước và quốc tế.

Khoa học kỹ thuật và công nghệ phát triển lên một tầm cao mới về năng lực và trình độ. Trong nông nghiệp, các nhà khoa học Việt Nam tạo được các giống cây trồng mới có năng suất và chất lượng vượt trội so với khu vực và thế giới: năng suất lúa cao gấp rưỡi Thái-lan và cao nhất ASEAN; năng suất hồ tiêu và cá tra đứng đầu thế giới; năng suất cà-phê và cao-su đứng thứ hai thế giới. Nhiều tiến bộ kỹ thuật và quy trình công nghệ mới được ứng dụng trong trồng trọt, chăn nuôi, bảo quản sau thu hoạch và chế biến, mang lại hiệu quả kinh tế cao.

Trong công nghiệp và dịch vụ, các chuyên gia công nghệ trong nước đã đủ năng lực thiết kế, chế tạo các thiết bị cơ khí chính xác, siêu trường, siêu trọng, giàn khoan dầu khí tự nâng ở vùng nước sâu; thiết kế, thi công các loại cầu vượt sông khẩu độ lớn, hầm đường bộ, nhà cao tầng, nhà máy nhiệt điện, thủy điện quy mô lớn. Công nghệ thông tin và truyền thông thế hệ mới, công nghệ số được ứng dụng rộng trong các ngành dịch vụ ngân hàng, hàng không, bưu chính viễn thông. Nhiều công nghệ cao như điện toán đám mây, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, mạng di động 5G đã và đang được phát triển.

Trong lĩnh vực y dược, Việt Nam nằm trong tốp ba nước ASEAN và 43 nước trên thế giới tự sản xuất được vắc-xin; làm chủ các kỹ thuật và công nghệ y học hiện đại ở trình độ cao như ghép đa tạng, thụ tinh nhân tạo, ứng dụng tế bào gốc và kỹ thuật sinh học phân tử. Trong đại dịch Covid-19, đã kịp thời nghiên cứu, phát triển kit xét nghiệm nhanh, rô-bốt, máy thở, vắc-xin, phác đồ điều trị và kháng thể đơn dòng để sản xuất thuốc đặc hiệu điều trị Covid-19; góp phần kiểm soát và khống chế thành công dịch bệnh, là minh chứng cho hiệu quả của sự đầu tư kiên trì và chiến lược cho tiềm lực KH và CN nước nhà trong nhiều năm qua.

Tiếp tục đổi mới tư duy và cơ chế, chính sách

Mặc dù đã đạt được nhiều tiến bộ vượt bậc, nhưng KH và CN nước ta phát triển chưa tương xứng với tiềm năng và vị trí quốc sách hàng đầu. Đội ngũ cán bộ KH và CN tuy gia tăng về số lượng nhưng thiếu các chuyên gia giỏi đầu ngành trong nhiều lĩnh vực tiên phong. Các công trình nghiên cứu tầm cỡ quốc tế, có đóng góp đột phá đối với phát triển kinh tế – xã hội còn ít. Tốc độ đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp còn chậm, cho nên chất lượng tăng trưởng, năng suất, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế thấp. KH và CN chưa thật sự trở thành động lực thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội.

Thực trạng đó đặt ra thách thức rất lớn cho lực lượng KH và CN khi đất nước bước vào thời kỳ phát triển mới, hội nhập ngày càng sâu rộng và chịu sự tác động toàn cầu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Dự thảo Văn kiện Đại hội XIII của Đảng xác định, một trong ba đột phá chiến lược, bên cạnh thể chế và hạ tầng, là đột phá về chất lượng nguồn nhân lực, KH và CN và đổi mới sáng tạo. Trong thời gian tới, cần tiếp tục đổi mới tư duy, phát hiện các nút thắt, dỡ bỏ các rào cản, hoàn thiện cơ chế, chính sách nhằm tạo môi trường thật sự thuận lợi, lành mạnh, giải phóng tiềm năng sáng tạo của các nhà khoa học, gia tăng mạnh mẽ kết quả và hiệu quả đóng góp của hoạt động KH và CN đối với các mục tiêu phát triển đất nước trong dài hạn.

Thứ nhất, cần tập trung hoàn thiện thể chế, chính sách và pháp luật phù hợp cơ chế thị trường và thông lệ quốc tế để phát triển KH và CN, tôn trọng đặc thù của lao động sáng tạo, chấp nhận rủi ro và độ trễ trong khoa học, dỡ bỏ các rào cản duy ý chí và hành chính hóa hoạt động KH và CN. Tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý hoạt động KH và CN theo hướng chú trọng hiệu quả và tác động của nhiệm vụ KH và CN trong giải quyết các bài toán thực tiễn phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Chú trọng chất lượng và chỉ số tác động của các bài báo, công trình công bố quốc tế; khả năng ứng dụng và thương mại hóa kết quả KH và CN trong đời sống công nghiệp và xã hội; tăng cường công bố quốc tế trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn. Cho phép thử nghiệm chính sách mới, mô hình đổi mới sáng tạo và công nghệ mới.

Thứ hai,  đổi mới hệ thống sáng tạo quốc gia lấy doanh nghiệp làm trung tâm, trường đại học, viện nghiên cứu là chủ thể nghiên cứu mạnh. Tiếp tục quan tâm phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo lành mạnh. Tăng cường thiết chế hợp tác công – tư, đồng tài trợ giữa Nhà nước và doanh nghiệp cho các nhiệm vụ nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo. Phát triển đồng bộ, gắn kết chặt chẽ các ngành khoa học, đồng thời giữ nguyên tắc coi trọng khoa học xã hội và nhân văn, đầu tư nền tảng cho khoa học tự nhiên, ưu tiên khoa học kỹ thuật và công nghệ; nâng cao năng lực đón đầu các ứng dụng KH và CN tiên phong ở trình độ cao.

Xác định trúng và đúng tầm nhiệm vụ KH và CN, tập trung đầu tư và đầu tư tới ngưỡng để giải quyết các yêu cầu bức thiết trong phát triển đất nước, ngành, lĩnh vực và doanh nghiệp. Xem xét khả năng phân quyền và đầu tư phát triển tiềm lực KH và CN địa phương theo cụm, vùng lãnh thổ để phát huy được thế mạnh tổng hợp và lợi thế của vùng.

Thứ ba, bảo đảm các nguyên tắc công khai, minh bạch, độc lập phản biện (kể cả phản biện quốc tế) trong tuyển chọn và xét chọn nhiệm vụ KH và CN. Trao quyền tự chủ cho tổ chức, cá nhân chủ trì nhiệm vụ KH và CN và tổ chức KH và CN công lập, đi đôi với cơ chế bắt buộc chịu sự đánh giá độc lập và giám sát xã hội, công khai kết quả hoạt động KH và CN. Rà soát hiện trạng để đầu tư có chọn lọc đối với một số tổ chức KH và CN trọng điểm, hiệu quả; xem xét chấm dứt đầu tư và giải thể các cơ sở hoạt động kém hiệu quả.

Thứ tư, tiếp tục đổi mới cơ chế đầu tư và tài chính cho KH và CN trên cơ sở cạnh tranh lành mạnh, có trọng tâm, trọng điểm, dựa trên chỉ số đo lường kết quả, hiệu quả đầu ra. Linh hoạt và đơn giản hóa thủ tục tuyển chọn nhiệm vụ KH và CN, thanh quyết toán tài chính theo thông lệ quốc tế, giảm tối đa các gánh nặng hành chính cho các nhà khoa học. Mạnh dạn giao quyền sở hữu kết quả KH và CN có sử dụng ngân sách nhà nước cho cơ quan chủ trì để thúc đẩy ứng dụng, thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Tăng đầu tư từ ngân sách nhà nước cho KH và CN và có cơ chế kinh tế, tài chính khuyến khích doanh nghiệp đầu tư, tham gia mạnh hơn vào hoạt động nghiên cứu, phát triển và đổi mới công nghệ.

Thứ năm, tiếp tục đầu tư cải thiện hạ tầng KH và CN, tăng cường trang thiết bị nghiên cứu, nâng cao hiệu quả hoạt động của các phòng thí nghiệm trọng điểm, phòng thí nghiệm chuyên ngành; kiên trì đầu tư tăng cường tiềm lực thông tin KH và CN. Kết hợp đồng bộ giữa hạ tầng nghiên cứu, môi trường học thuật tiên tiến và tự chủ, chính sách đãi ngộ thỏa đáng và các cơ hội phát triển nghề nghiệp thuận lợi cho nhà khoa học. Mở rộng hợp tác quốc tế và kết nối, thu hút hiệu quả lực lượng khoa học là người Việt Nam ở nước ngoài. Trọng dụng, đãi ngộ người tài kết hợp đòi hỏi về tính liêm chính và đạo đức trong nghiên cứu.

Cải tổ bộ máy quản lý nhà nước và nâng cao chất lượng đội ngũ nhân lực quản lý KH và CN; đổi mới tư duy quản lý để ứng phó kịp với các thay đổi không ngừng và nhanh chóng của đời sống KH và CN; áp dụng công nghệ kỹ thuật cao trong quản lý hoạt động KH và CN để giảm thủ tục hành chính đối với các nhà khoa học, tổ chức KH và CN.

Công bố Điều lệ tổ chức và hoạt động của Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia

Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia trân trọng thông báo tới các Quý cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, và các cá nhân được biết. Sau một thời gian gặp khó khăn và vướng mắc về cơ chế hoạt động của mô hình Quỹ Tài chính nhà nước ngoài ngân sách với Luật Ngân sách năm 2015, Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia đã được Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 04/2021/QĐ-TTg ban hành Điều lệ tổ chức và hoạt động của Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia theo mô hình hoạt động mới, phù hợp với Chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và Chính sách phát triển khoa học và công nghệ trong tình hình mới.

Theo quy định, Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia là quỹ tài chính Nhà nước ngoài ngân sách trực thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ, hoạt động không vì mục đích lợi nhuận, thực hiện chức năng cho vay ưu đãi, hỗ trợ lãi suất vay, bảo lãnh để vay vốn và hỗ trợ vốn (hỗ trợ tài chính) cho các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân thực hiện nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao, đổi mới và hoàn thiện công nghệ

Quỹ hoạt động theo mô hình Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ. Mục đích hoạt động của Quỹ nhằm hỗ trợ doanh nghiệp chuyển giao, đổi mới, hoàn thiện công nghệ được khuyến khích chuyển giao quy định tại Luật Chuyển giao công nghệ; thúc đẩy việc chuyển giao công nghệ phục vụ phát triển nông nghiệp ở vùng nông thôn, miền núi, địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn.

Đồng thời, Quỹ hỗ trợ ươm tạo công nghệ, ươm tạo doanh nghiệp khoa học và công nghệ, giải mã công nghệ; hỗ trợ đào tạo nhân lực khoa học và công nghệ phục vụ việc chuyển giao, đổi mới, hoàn thiện công nghệ. Quỹ có nhiệm vụ tiếp nhận, quản lý và sử dụng các nguồn vốn từ ngân sách Nhà nước, các nguồn tài chính tài trợ hợp pháp, các khoản đóng góp tự nguyện của doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước; tổ chức xét chọn nhiệm vụ, dự án để Quỹ hỗ trợ tài chính; xây dựng quy định về hỗ trợ tài chính và quyết định mức hỗ trợ tài chính một cách minh bạch; thẩm định tài chính, kiểm tra, quản lý quá trình thực hiện nhiệm vụ, dự án và tổ chức đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ, dự án được Quỹ hỗ trợ tài chính.

Quỹ có thẩm quyền đình chỉ việc hỗ trợ tài chính hoặc thu hồi kinh phí đã hỗ trợ khi phát hiện doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân thực hiện nhiệm vụ, dự án vi phạm các quy định về sử dụng vốn của Quỹ; giải quyết các khiếu nại; khởi kiện đối với doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân vi phạm hợp đồng và cam kết với Quỹ theo quy định của pháp luật; hỗ trợ vốn đối với các nhiệm vụ do doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân thực hiện được Thủ tướng Chính phủ hoặc Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ giao cho Quỹ thông qua các chương trình, nhiệm vụ khoa học và công nghệ, bảo đảm nguyên tắc ngân sách nhà nước không hỗ trợ kinh phí cho các nhiệm vụ, Chương trình khoa học và công nghệ cấp Quốc gia trong trường hợp các nhiệm vụ, Chương trình này đã được hỗ trợ từ nguồn vốn của Quỹ trong cùng một thời điểm

Thông tin chi tiết điều lệ xem tại đây